Tài Liệu Tự Học ASP.NET MVC 3

Bộ video này được Pluralsight hoàng thành vào 29/05/2011
  1. Introduction to ASP.NET MVC 3 - 35 mins
  2. Controllers in ASP.NET MVC 3 - 35 mins
  3. Razor Views in ASP.NET MVC 3 - 45 mins
  4. Working with Data in ASP.NET MVC 3 (Part I) - 39 mins
  5. Working with Data in ASP.NET MVC 3 (Part II) - 33 mins
  6. AJAX and JavaScript with ASP.NET MVC 3 - 47 mins
  7. Security and ASP.NET MVC 3 - 43 mins
  8. ASP.NET Infrastructure for ASP.NET MVC 3 - 34 mins
  9. TDD and Unit Testing with ASP.NET MVC 3 - 37 mins
  10. Configuration and Deployment with ASP.NET MVC 3 - 37 mins
Các bạn có thể xem online bằng các link trên hoặc down trọn bộ video tại:
ASP.NET MVC 3 Tutorial.iso.001 http://www.mediafire.com/?mje81mlzzxp4x72
ASP.NET MVC 3 Tutorial.iso.002 http://www.mediafire.com/?bofrphirzmfa75p
ASP.NET MVC 3 Tutorial.iso.003 http://www.mediafire.com/?07daf2y26zlz8u3
ASP.NET MVC 3 Tutorial.iso.004 http://www.mediafire.com/?qn26t5fmj3t8i3t

Vì sao nên tránh viết SQL code trong ứng dụng

Trong ứng dụng khi cần tương tác với database, có lẽ một cách làm rất phổ biến là tạo lập một chuỗi chứa lệnh SQL, ghép các giá trị  nhập vào của người dùng thành một lệnh SQL hoàn chỉnh, rồi thực hiện chuỗi lệnh SQL đó. Như ví dụ dưới đây:

string cmdStr = "INSERT INTO Customer(Name, Address, Email, Phone) VALUES('" + txtName.Text + "', '" + txtEmail.Text + "','" + txtPhone.Text + "')";
conn.Open();
SqlCommand cmd = new SqlCommand(cmdStr, conn);
cmd.ExecuteNonQuery();
 
Cách làm này có ưu điểm tiện lợi, giúp quá trình phát triển code nhanh (không phải chuyển qua lại giữa Visual Studio và Management Studio). Tuy nhiên nó tiềm ẩn rất nhiều vấn đề (cách làm tối ưu là viết một thủ tục trong database rồi từ ứng dụng gọi thủ tục này và truyền các tham số cho nó):
1. An ninh: việc viết lệnh SQL thẳng trong ứng dụng như vậy sẽ tạo ra lỗ hổng SQL injection, tức là hacker có thể khéo léo nhập thẳng vào trường text một chuỗi có chứa đoạn lệnh SQL và để cho database sẽ thực hiện đoạn lệnh đó. Ví dụ, khi hacker nhập vào trường txtPhone giá trị:


123');delete from order--
 
thì đoạn lệnh mà ứng dụng gửi cho SQL Server sẽ là:


INSERT INTO Customer(Name, Address, Email, Phone) Values('','','123');delete from order--')
 
Chú ý là hacker cố tình đưa hai dấu gạch ngang "--" vào cuối để biến toàn bộ đoạn ký tự phía sau thành đoạn giải thích. Kết quả là SQL Server sẽ thực hiện hai lệnh, "INSERT INTO Customer…" và "delete from order", và bảng order bị xóa sạch. Tương tự hacker có thể đưa vào các lệnh khác như "drop table order" để xóa hẳn bảng khỏi database, hoặc "select * from user" để lấy hết thông tin tài khoản của người dùng.
Nếu dùng thủ tục thì vấn đề hoàn toàn bị hóa giải, vì toàn bộ giá trị của trường text sẽ được lưu vào cột tương ứng trong bảng bên trong database. Khi đó chỉ có một lệnh INSERT được thực hiện và giá trị của Phone của bản ghi mới sẽ là "123');delete from order--"
 
2. Hiệu năng (performance): cách làm trên sẽ dẫn đến mỗi lần thực hiện SQL Server sẽ biên dịch lại câu lệnh. Khi SQL Server nhận được một câu lệnh, nó sẽ kiểm tra xem câu lệnh này đã có kế hoạch thực thi lưu trong cache hay chưa. Nó băm (hash) câu lệnh để chuyển thành một con số và đối chiếu với bảng băm trong cache, nếu tìm thấy có nghĩa là câu lệnh này đã thực hiện trước đó rồi và SQL Server dùng luôn kế hoạch thực thi đã có sẵn. Nếu không tìm thấy có nghĩa đây là câu lệnh mới và SQL Server sẽ biên dịch, tạo kế hoạch thực thi, lưu vào cache, và thực hiện câu lệnh. Vì với hàm băm, câu lệnh chỉ cần khác đi một chút (chỉ cần thêm một dấu cách) là đã cho số băm khác nhau, nên với mỗi giá trị người dùng nhập vào sẽ tạo thành một câu lệnh mới và SQL Server lại phải trải qua các bước biên dịch, tạo kế hoạch thực thi, lưu vào cache trước khi tiến hành thực hiện câu lệnh.
Trong nhiều trường hợp, chi phí cho các bước kể trên có thể rất lớn. Ví dụ với một câu lệnh mất 100 mili giây để biên dịch trong khi cũng mất 100 mili giây để thực hiện, thì chi phí để thực hiện câu lệnh này bị tăng gấp đôi. Một hậu quả khác là mỗi lần biên dịch thì kế hoạch thực thi mới sẽ chiếm chỗ trong cache, trong khi kích thước của cache chỉ có hạn. Đến một lúc kế hoạch thực thi của các câu lệnh khác sẽ bị loại khỏi cache để giải phóng chỗ, và đến khi các câu lệnh khác đó được thực hiện thì lại cần biên dịch lại. Như vậy hiệu năng của toàn bộ hệ thống bị giảm.
Khi dùng thủ tục thì tình huống sẽ thay đổi hẳn, vì SQL Server chỉ băm câu lệnh gọi đến thủ tục mà bỏ qua các tham số, cho nên khi đã thực hiện EXEC Proc1 @param=1 thì đến khi gặp EXEC Proc1 @param=2 SQL Server không cần biên dịch lại thủ tục nữa.
 
3. Bảo mật: Khi ta viết thẳng lệnh SQL vào ứng dụng như trên thì user được dùng để kết nối vào database (trong connection string) cần phải có quyền INSERT vào bảng. Thông thường các ứng dụng có đủ các thao tác đọc/ghi/xóa vào database, cho nên user trên cũng đòi hỏi đủ các quyền SELECT/INSERT/UPDATE/DELETE vào các bảng trong database. Khi hacker chiếm được quyền truy nhập vào database với user trên, hắn ta có thể mặc sức tung hoành làm bất cứ điều gì hắn muốn trong database.
Khi dùng thủ tục thì user không cần bất cứ quyền nào trực tiếp trên bảng, user chỉ cần quyền thực thi thủ tục và khi chạy thì thủ tục thực hiện các thao tác trên bảng cho user. Ta có thể dỡ bỏ hết các quyền của user trên tất cả các bảng và chỉ cấp quyền thực thi trên các thủ tục cần thiết. Ta cũng có thể đồng thời dỡ bỏ quyền truy nhập vào các bảng hệ thống, cho nên nếu hacker có truy nhập được vào database thông qua user trên, hắn ta sẽ mù tịt không biết database có các bảng nào để mà phá.
Nếu hắn truy nhập được vào mã nguồn của ứng dụng thì có thể biết được tên của các thủ tục được dùng trong ứng dụng và chạy các thủ tục này, nhưng mức độ phá hoại của hacker bị khống chế ở mức thấp hơn nhiều so với khi user có đủ các quyền.
 
4. Bảo trì: thường có những đoạn lệnh SQL được dùng lại ở một vài nơi khác nhau trong ứng dụng, hoặc thậm chí ở các ứng dụng khác nhau truy nhập chung vào một database. Khi viết thẳng SQL code trong ứng dụng ta sẽ phải viết lại đoạn lệnh trên ở tất cả những nơi nó được dùng. Điều này đã phạm vào lỗi "lặp lại code" (duplication of code) trong phát triển phần mềm. Khi cần phải sửa lại câu lệnh SQL trên (vì lỗi hoặc cần viết theo cách tối ưu hơn, hoặc cấu trúc database thay đổi dẫn đến cần viết lại) ta sẽ phải tìm đến tất cả các nơi có dùng câu lệnh SQL đó để sửa.
Với thủ tục thì ta chỉ cần sửa ở một nơi và nó có tác dụng cho toàn ứng dụng. Giống như .net tách mã chương trình ra khỏi mã html, dùng thủ tục cũng tách mã SQL ra khỏi mã chương trình. Lúc đó thủ tục có chức năng như là cổng truy nhập, hay API, mà qua đó ứng dụng giao tiếp với database. Nó tạo thành một lớp ngăn cách giữa ứng dụng và database, và che dấu toàn bộ cấu trúc database khỏi ứng dụng. Ứng dụng không cần biết database gồm có những bảng gì, mỗi bảng có các cột nào, hay các bảng quan hệ với nhau ra sao. Vì thế ta có thể dễ dàng thay đổi cấu trúc của database khi cần và sửa lại các thủ tục có liên quan mà không ảnh hưởng gì đến ứng dụng.
 
Kết luận: Việc viết mã SQL trong ứng dụng có rất nhiều vấn đề như đã chỉ ra. Với những ứng dụng nhỏ hoặc ứn dụng có những đặc thù nhất định, những vấn đề trên có thể không bộc lộ hết ra, nhưng khi ta quyết định chọn phương pháp này thì cũng cần ý thức được những hệ quả có thể xảy ra của nó. Có những trường hợp ta không muốn lưu mã nguồn trong database, ví dụ để ứng dụng có thể dễ dàng chuyển đổi giữa các hệ CSDL khác nhau. Khi đó ta bắt buộc phải viết SQL code trong ứng dụng, nhưng để giảm nhẹ các vấn đề của nó, ta nên dùng chuỗi SQL có tham số (dùng cmd.Parameters.Add) để tránh được lỗi SQL injection và biên dịch lại câu lệnh (điểm 1 và 2 ở trên). Còn khi ta có lựa chọn dùng thủ tục thì nên áp dụng phương pháp này. Đây là phương pháp mà Microsoft khuyến cáo khi viết ứng dụng trên môi trường phát triển của họ

Script backup toàn bộ databases trong SQL Server

Máy chủ của bạn có khoảng 100 database. Bạn muốn backup toàn bộ số database này ? Bạn hoàn toàn có thể sử dụng tool backup của SQL Server Management Studio nhưng sẽ rất mất nhiều thời gian cũng như chán nản. Thay vào đó bạn có thể sử dụng T-SQL là một phương pháp đơn giản và nhanh hơn rất nhiều


DECLARE @name VARCHAR(50) -- database name 
DECLARE @path VARCHAR(256) -- path for backup files 
DECLARE @fileName VARCHAR(256) -- filename for backup 
DECLARE @fileDate VARCHAR(20) -- used for file name
 
-- specify database backup directory
SET @path = 'C:\Backup\'
-- specify filename format
SELECT @fileDate = CONVERT(VARCHAR(20),GETDATE(),112) 
DECLARE db_cursor CURSOR FOR 
SELECT name
FROM master.dbo.sysdatabases
WHERE name NOT IN ('master','model','msdb','tempdb')  -- exclude these databases
OPEN db_cursor  
FETCH NEXT FROM db_cursor INTO @name  
WHILE @@FETCH_STATUS = 0  
BEGIN  
       SET @fileName = @path + @name + '_' + @fileDate + '.BAK' 
       BACKUP DATABASE @name TO DISK = @fileName 
       FETCH NEXT FROM db_cursor INTO @name  
END  
CLOSE db_cursor  
DEALLOCATE db_cursor
Nếu bạn muốn thêm thời gian vào file backup bạn sẽ thay thế đoạn script sau:


SELECT @fileDate = CONVERT(VARCHAR(20),GETDATE(),112)
bằng đoạn


SELECT @fileDate = CONVERT(VARCHAR(20),GETDATE(),112) + REPLACE(CONVERT(VARCHAR(20),GETDATE(),108),':','')

Chúc các bạn thành công

Giải pháp Session timeout trong ASP.NET

Session timeout Là khoảng thời gian lớn nhất có thể giữa hai lần user request lên server mà session của user chưa bị hủy. Vấn đề thường gặp là Session hay bị mất khi đang xử lý thông tin trước khi Submit form. Bài viết này xin giới thiệu một giải pháp cho vấn đề session timeout trong asp.net

1. Session timeout là gì?

Là khoảng thời gian lớn nhất có thể giữa hai lần user request lên server mà session của user chưa bị hủy. Nói một cách đơn giản hơn, giả sử giá trị timeout này là 30′, thì cứ trong 30′, nếu user không gửi một request nào lên server thì session của user đó sẽ không còn hiệu lực.
Trong ASP.NET, session timeout mặc định là 20′. Có nhiều cách để thay đổi giá trị này, đơn giản nhất là thêm một dòng trong web.config


<sessionState timeout="30"></sessionState>

2. Đặt timeout bao nhiêu là hợp lý?

Giá trị mặc định của nó là 20′, tuy nhiên trong một số trường hợp bạn muốn session tồn tại lâu hơn. Ví dụ một ứng dụng web cho phép người dùng soạn thảo nội dung trực tiếp trên trình duyệt. Bạn không muốn session kết thúc trước khi người dùng soạn thảo xong văn bản, vì thế bạn thiết lập timeout bằng một số rất lớn. Điều này không thực sự ổn vì nó sẽ tốn rất nhiều bộ nhớ của server dành cho session của những người dùng không còn trên website của bạn.
 

3. Heart beat pattern

Có một giải pháp cho vấn đề này: Thiết lập một giá trị session timeout nhỏ. Đồng thời, phía client sẽ “âm thầm” gửi các request nhỏ, thường xuyên đến server để báo cho server biết nó vẫn còn “sống”. Do đó bạn sẽ không bị tốn bộ nhớ một cách vô ích cho session của những người dùng không còn trên trang. Phương pháp này được biết dưới cái tên Heartbeat design pattern.
Tôi thực hiện điều này trong ASP.NET một cách đơn giản như sau:
+ Thiết lập một giá trị nhỏ cho session timeout (giả sử là 5′)


<sessionState timeout="5"></sessionState>
 
+ Tạo trang KeepAlive.ashx để nhận request thường xuyên từ client. Trang này không cần làm gì cũng được.
+ Thêm đoạn code javascript sau vào trang bạn muốn thực hiện. Tốt nhất là đặt chúng trong các trang master page
 

function heartBeat() {
    $.get("KeepAlive.ashx?", function (data) {});
}
$(function () {
    setInterval("heartBeat()", 1000 * 30); // 30s gửi request một lần
});

Tạo đồng hồ chạy trong các website deal

Nếu các bạn là người dùng Việt Nam chắc chắn ai ai cũng biết đến 3 website nổi tiếng nhất hiện nay đó là nhommua, cungmua, và hotdeal, chúng là 1 website cung cấp các deal, coupon, và vouchor.

Khi một bài viết (deal) được publish chúng ta sẽ thường thấy 1 đồng hồ tick và thời gian nó sẽ giảm dần cho đến khi hết hạn, và sau khi hết hạn thì deal đó trong trạng thái close đi
Mặc dùng là các site cung cấp deal khác nhau nhưng nhìn chung, tất cả đều tương đồng đến 90%.
Timer counter của nhommua
tao dong ho chay trong cac website deal
Timer counter của cungmua
Timer counter của hotdeal
Trong bài này chúng ta sẽ tiếp cận với cách làm timer counter đó sử dụng asp.net và javascript.

Đầu tiên tạo 1 dự án asp.net empty website bằng Visual Studio 2010
Thêm 1 item mới named default.aspx
Copy và paste đoạn javascript sau vào Visual Studio


function Timer(container, timeLeft) {
  // get hour, minute and second element using jQuery selector
  var hoursContainer = $(container).find('.hour');
  var minsContainer  = $(container).find('.min');
  var secsContainer  = $(container).find('.sec');
    
  // hold time left
  var currentTimeLeft = timeLeft;
  // 1 second = 1000 ms
  var secondsForTimer = 1000; 
  // hold ID value return by setInterval()
  var timerInterval;
   
  // call setInteval() only when timeLeft is greater than 0
  if (currentTimeLeft == 0) {
      return;
  } else {
      //Call setInterval()function and store ID value to timerInterval.
      timerInterval = setInterval(countdown, secondsForTimer);
  }
   
  //function being passed to setInterval()
  function countdown() {
    currentTimeLeft = parseInt(currentTimeLeft - secondsForTimer);   
    if (currentTimeLeft == 0) {
       //stop calling countdown function by calling clearInterval()
       clearInterval(timerInterval);
       return;
    } else {       
       //calculate hours left
       var wholeSeconds = parseInt(currentTimeLeft / 1000,10);
       var wholeMinutes = parseInt(currentTimeLeft / 60000,10);
       var wholeHours   = parseInt(wholeMinutes / 60,10);
       //calculate minutes left
       var minutes = parseInt(wholeMinutes % 60,10);
       //calculate seconds left
       var seconds = parseInt(wholeSeconds % 60,10);
       //prefix 0 to hour, min and second counter
       $(hoursContainer).text((wholeHours < 10 ? "0" : "") + wholeHours + (wholeHours <=0 ? " hr" : " hrs"));
       $(minsContainer).text((minutes < 10 ? "0" : "") + minutes  + (minutes <=0 ? " min" : " mins"));
       $(secsContainer).text((seconds < 10 ? "0" : "") + seconds  + (seconds <=0 ? " sec" : " secs"));
    }
  }
}
Đặt tên nó là timer.js sau đó reference nó vào trang default.aspx

<script type="text/javascript" src="http://ajax.googleapis.com/ajax/libs/jquery/1.7.2/jquery.min.js"></script>
<script src="timer.js" type="text/javascript"></script>
<script type="text/javascript" language="javascript">
    $(document).ready(function () {
        var timeLeft = '<%=remaingTime%>';        
        var timer = new Timer($('#counter'), timeLeft);
    });
</script>
Trước tiên reference Jquery để bind function onload (.ready) cho page
Chú ý biến remaingTime chúng ta sẽ handle nó trong sự kiện page_load của trang default như sau:

using System;
using System.Web.UI;
  
public partial class _Default : Page
{
    protected string remaingTime = String.Empty;
  
    protected void Page_Load(object sender, EventArgs e)
    {
        var expiredDate = new DateTime(2012, 07, 11,16,0,0);
        var timeLeft = expiredDate.Subtract(TimeZoneInfo.ConvertTimeBySystemTimeZoneId(DateTime.Now, "SE Asia Standard Time"));
        remaingTime = timeLeft.TotalMilliseconds.ToString();
    }
}
Đầu tiên mình khai báo biến remaingTime với giá trị là rỗng
Sau đó mình 
khởi tạo biến expiredDate với giá trị lớn hơn ngày hiện tại mình viết bài 24h.
Dùng hàm Subtract để tính số thời gian chênh lệch giữa 2 biến.
Dùng hàm ConvertBySystemTimeZoneId để convert time đúng theo múi giờ mà mình muốn, trong trường hợp server đặt ở 1 location không phải là Việt Nam.

Khi có khoảng thời gian chệnh lệch rồi thì mình sẽ có được tổng số Millisecond
Chạy ứng dụng lên chúng ta sẽ thấy màn hình như sau:


Chúc các bạn thành công